IELTS Online
Bài tập True/False/Not given IELTS Reading có đáp án chi tiết
Mục lục [Ẩn]
- 1. Dạng bài True/False/Not given là gì?
- 2. Các bước làm dạng bài True/False/Not given
- 2.1. Đọc và phân tích câu hỏi
- 2.2. Xác định vị trí thông tin bằng kỹ năng Scanning
- 2.3. Đối chiếu nội dung với bài đọc
- 2.4. Chọn đáp án và kiểm tra lại
- 3. Lưu ý khi làm dạng True/False/Not Given
- 4. Bài tập True/False/Not Given
- 4.1. Exercise 1: Urban farming
- 4.2. Exercise 2: The development of the London underground railway
- 4.3. Exercise 3: Plant ‘thermometer’
- 4.4. Exercise 4: Pyramid Building
- 5. Kết luận
Dạng bài True/False/Not Given trong IELTS Reading thường khiến nhiều thí sinh nhầm lẫn vì yêu cầu phân biệt chính xác giữa thông tin đúng, sai hoặc không được đề cập trong bài đọc. Để làm tốt dạng câu hỏi này, người học cần nắm rõ cách xác định từ khóa, hiểu kỹ thuật paraphrase và luyện tập với các bài đọc thực tế. Trong bài viết dưới đây, Langmaster sẽ tổng hợp bài tập True/False/Not Given IELTS Reading kèm đáp án và giải thích chi tiết, giúp người học rèn luyện kỹ năng đọc hiểu và nâng cao độ chính xác khi làm bài.
1. Dạng bài True/False/Not given là gì?
Dạng bài True/False/Not Given (T/F/NG) là một trong những dạng câu hỏi phổ biến trong bài thi IELTS Reading. Ở dạng bài này, thí sinh cần đọc các câu nhận định (statements) được đưa ra và xác định xem nội dung của chúng có phù hợp với thông tin trong đoạn văn hay không.
Dựa vào nội dung bài đọc, bạn sẽ lựa chọn một trong ba đáp án sau:
-
True: Thông tin trong câu nhận định hoàn toàn trùng khớp hoặc có ý nghĩa tương đương với thông tin được đề cập trong bài đọc.
-
False: Nội dung của câu nhận định mâu thuẫn, trái ngược hoặc sai so với thông tin trong bài.
-
Not Given: Bài đọc không cung cấp đủ thông tin hoặc không đề cập đến nội dung trong câu nhận định, vì vậy không thể kết luận đúng hay sai.
>> Xem thêm: Giải đề thi IELTS Reading ngày 14.02.2026 [FULL ANSWERS]
2. Các bước làm dạng bài True/False/Not given
Để làm tốt dạng bài True/False/Not Given trong IELTS Reading, thí sinh cần áp dụng một quy trình đọc và phân tích thông tin một cách có hệ thống. Nhìn chung, phương pháp hiệu quả gồm các bước: phân tích câu hỏi, xác định từ khóa, quét bài đọc để tìm thông tin, đối chiếu nội dung và đưa ra kết luận chính xác. Dưới đây là quy trình 4 bước chi tiết giúp bạn xử lý dạng bài này nhanh và chính xác hơn.
2.1. Đọc và phân tích câu hỏi
Trước khi bắt đầu tìm thông tin trong bài đọc, hãy đọc kỹ yêu cầu của đề bài để xác định bạn cần điền TRUE / FALSE / NOT GIVEN hay YES / NO / NOT GIVEN.
Tiếp theo, gạch chân các từ khóa quan trọng trong câu hỏi, bao gồm:
-
Tên riêng, số liệu, mốc thời gian
-
Danh từ chính hoặc cụm danh từ quan trọng
-
Từ hạn định (controlling words) như all, some, only, always, often, never…
Những từ này thường quyết định tính đúng – sai của nhận định. Ngoài ra, bạn cũng nên dự đoán các cách diễn đạt đồng nghĩa (paraphrase) có thể xuất hiện trong bài đọc để việc tìm kiếm thông tin trở nên nhanh chóng và chính xác hơn.
2.2. Xác định vị trí thông tin bằng kỹ năng Scanning
Sau khi xác định từ khóa, hãy sử dụng kỹ năng scanning để quét nhanh bài đọc và tìm đoạn văn chứa thông tin liên quan.
Một điểm quan trọng cần nhớ là các câu hỏi trong IELTS Reading thường xuất hiện theo đúng thứ tự thông tin của bài đọc. Vì vậy, khi đã tìm được vị trí của một câu, bạn có thể tiếp tục đọc ở phần nội dung phía sau để tìm câu tiếp theo, giúp tiết kiệm đáng kể thời gian làm bài.
2.3. Đối chiếu nội dung với bài đọc
Khi đã tìm được đoạn văn liên quan, hãy đọc kỹ nội dung trong đoạn đó và so sánh với câu nhận định trong đề bài.
Dựa vào mức độ trùng khớp thông tin, bạn sẽ xác định đáp án:
-
True: Thông tin trong câu hỏi trùng khớp hoàn toàn hoặc được diễn đạt lại (paraphrase) với nội dung trong bài đọc.
-
False: Nội dung trong câu hỏi mâu thuẫn hoặc trái ngược với thông tin được đề cập trong bài.
-
Not Given: Bài đọc không cung cấp thông tin liên quan hoặc không đủ dữ kiện để xác định đúng hay sai.
2.4. Chọn đáp án và kiểm tra lại
Sau khi xác định đáp án, hãy kiểm tra lại một lần nữa trong đoạn văn để đảm bảo kết luận của bạn hoàn toàn dựa trên thông tin từ bài đọc.
Một nguyên tắc quan trọng khi làm dạng bài này là không sử dụng kiến thức cá nhân hoặc suy đoán bên ngoài. Tất cả câu trả lời phải dựa 100% vào dữ liệu được cung cấp trong bài đọc.
Nếu còn phân vân giữa False và Not Given, hãy chú ý đến các từ hạn định (controlling words) trong câu hỏi. Những từ như only, always, never, all thường khiến câu nhận định trở nên sai (False) nếu bài đọc không khẳng định chính xác như vậy.
>> Xem thêm: Các bước làm dạng bài IELTS Reading True/False/Not Given
3. Lưu ý khi làm dạng True/False/Not Given
-
Phân bố đáp án thường đa dạng: Trong một nhóm câu hỏi True/False/Not Given, đề thi thường không tập trung vào duy nhất một loại đáp án. Vì vậy, nếu bạn nhận thấy hầu hết các câu đều là True/False hoặc chỉ Not Given, hãy kiểm tra lại bài làm. Điều này giúp tránh trường hợp bỏ sót chi tiết quan trọng hoặc hiểu sai thông tin trong bài đọc.
-
Thứ tự câu hỏi trùng với thứ tự thông tin trong bài: Trong IELTS Reading, các câu hỏi thường được sắp xếp theo trình tự xuất hiện của thông tin trong đoạn văn. Điều này có nghĩa là sau khi xác định được vị trí của câu hỏi trước, bạn có thể tiếp tục đọc ở phần nội dung phía sau để tìm đáp án cho câu tiếp theo, thay vì phải quay lại đọc lại bài từ đầu.
-
Không cần đọc toàn bộ bài đọc: Thông tin dùng để trả lời dạng bài True/False/Not Given thường chỉ tập trung ở một vài đoạn nhất định trong passage. Vì vậy, thí sinh nên áp dụng kỹ thuật scanning từ khóa (keywords) để tìm nhanh vị trí thông tin, thay vì đọc chi tiết toàn bộ bài đọc, từ đó tiết kiệm thời gian làm bài.
4. Bài tập True/False/Not Given
Dưới đây là một số bài tập True/False/Not Given trong IELTS Reading để bạn áp dụng các phương pháp đã học và kiểm tra khả năng xử lý dạng câu hỏi này.
4.1. Exercise 1: Urban farming
Urban farming
In Paris, urban farmers are trying a soil-free approach to agriculture that uses less space and fewer resources. Could it help cities face the threats to our food supplies?
On top of a striking new exhibition hall in southern Paris, the world's largest urban rooftop farm has started to bear fruit. Strawberries that are small, intensely flavoured and resplendently red sprout abundantly from large plastic tubes. Peer inside and you see the tubes are completely hollow, the roots of dozens of strawberry plants dangling down inside them. From identical vertical tubes nearby burst row upon row of lettuces; near those are aromatic herbs, such as basil, sage and peppermint. Opposite, in narrow, horizontal trays packed not with soil but with coconut fibre, grow cherry tomatoes, shiny aubergines and brightly coloured chards.
Pascal Hardy, an engineer and sustainable development consultant, began experimenting with vertical farming and aeroponic growing towers – as the soil-free plastic tubes are known – on his Paris apartment block roof five years ago. The urban rooftop space above the exhibition hall is somewhat bigger: 14,000 square metres and almost exactly the size of a couple of football pitches. Already, the team of young urban farmers who tend it have picked, in one day, 3,000 lettuces and 150 punnets of strawberries. When the remaining two thirds of the vast open area are in production, 20 staff will harvest up to 1,000 kg of perhaps 35 different varieties of fruit and vegetables, every day. ‘We're not ever, obviously, going to feed the whole city this way,’ cautions Hardy. 'In the urban environment you're working with very significant practical constraints, clearly, on what you can do and where. But if enough unused space can be developed like this, there's no reason why you shouldn't eventually target maybe between 5% and 10% of consumption.'
Perhaps most significantly, however, this is a real-life showcase for the work of Hardy's flourishing urban agriculture consultancy, Agripolis, which is currently fielding enquiries from around the world to design, build and equip a new breed of soil-free inner-city farm. 'The method's advantages are many,' he says. First, I don't much like the fact that most of the fruit and vegetables we eat have been treated with something like 17 different pesticides, or that the intensive farming techniques that produced them are such huge generators of greenhouse I gases. I don't much like the fact, either, that they've travelled an average of 2,000 refrigerated kilometres to my plate, that their quality is so poor, because the varieties are selected for their capacity to withstand such substantial journeys, or that 80% of the price I pay goes to wholesalers and transport companies, not the producers.'
Produce grown using this soil-free method, on the other hand – which relies solely on a small quantity of water, enriched with organic nutrients, pumped around a closed circuit of pipes, towers and trays – is produced up here, and sold locally, just down there. It barely travels at all,' Hardy says. 'You can select crop varieties for their flavour, not their resistance to the transport and storage chain, and you can pick them when they're really at their best, and not before.' No soil is exhausted, and the water that gently showers the plants' roots every 12 minutes is recycled, SO the method uses 90% less water than a classic intensive farm for the same yield.
Urban farming is not, of course, a new phenomenon. Inner-city agriculture is booming from Shanghai to Detroit and Tokyo to Bangkok. Strawberries are being grown in disused shipping containers, mushrooms in underground carparks. Aeroponic farming, he says, is 'virtuous'. The equipment weighs little, can be installed on almost any flat surface and is cheap to buy: roughly €100 to €150 per square metre. It is cheap to run, too, consuming a tiny fraction of the electricity used by some techniques.
Produce grown this way typically sells at prices that, while generally higher than those of classic intensive agriculture, are lower than soil-based organic growers. There are limits to what farmers can grow this way, of course, and much of the produce is suited to the summer months. 'Root vegetables we cannot do, at least not yet,' he says. 'Radishes are OK, but carrots, potatoes, that kind of thing – the roots are simply too long. Fruit trees are obviously not an option. And beans tend to take up a lot of space for not much return.' Nevertheless, urban farming of the kind being practised in Paris is one part of a bigger and fast-changing picture that is bringing food production closer to our lives.
Questions 8-13
Do the following statements agree with the information given in Reading Passage 1?
In boxes 8-13 on your answer sheet, write
| TRUE |
if the statement agrees with the information |
| FALSE |
if the statement contradicts the information |
| NOT GIVEN |
if there is no information on this |
8. Urban farming can take place above or below ground.
9. Some of the equipment used in aeroponic farming can be made by hand.
10. Urban farming relies more on electricity than some other types of farming.
11. Fruit and vegetables grown on an aeroponic urban farm are cheaper than traditionally grown organic produce.
12. Most produce can be grown on an aeroponic urban farm at any time of the year.
13. Beans take longer to grow on an urban farm than other vegetables.
>> Xem thêm: Giải đề Children's literature IELTS Reading Actual Test Vol 1 Test 5
Đáp án
|
Câu hỏi |
Đáp án |
|
8 |
TRUE |
|
9 |
NOT GIVEN |
|
10 |
FALSE |
|
11 |
TRUE |
|
12 |
FALSE |
|
13 |
NOT GIVEN |
Giải thích chi tiết:
Question 8: TRUE
Thông tin trong bài: "Strawberries are being grown in disused shipping containers, mushrooms in underground carparks."
Giải thích: Đoạn văn đề cập đến nhiều hình thức canh tác nông nghiệp đô thị khác nhau. Ví dụ, dâu tây được trồng trong các container vận chuyển bỏ không, trong khi nấm được trồng trong các bãi đỗ xe ngầm dưới lòng đất. Điều này cho thấy hoạt động canh tác có thể diễn ra ở nhiều không gian khác nhau trong đô thị, bao gồm cả khu vực trên mặt đất (như mái nhà) và khu vực dưới lòng đất. Vì vậy, nhận định cho rằng nông nghiệp đô thị có thể diễn ra ở cả trên và dưới mặt đất là phù hợp với thông tin trong bài đọc.
Question 9: NOT GIVEN
Thông tin trong bài: "The equipment weighs little, can be installed on almost any flat surface and is cheap to buy: roughly €100 to €150 per square metre."
Giải thích: Bài đọc cung cấp thông tin về đặc điểm của thiết bị sử dụng trong hệ thống trồng cây khí canh, bao gồm trọng lượng nhẹ, khả năng lắp đặt trên nhiều bề mặt phẳng khác nhau và chi phí mua tương đối thấp. Tuy nhiên, nội dung không đề cập đến việc các thiết bị này có thể được chế tạo thủ công hay tự làm bằng tay. Do không có dữ liệu nào xác nhận hoặc phủ nhận nhận định này, đáp án chính xác là Not Given.
Question 10: FALSE
Thông tin trong bài: "It is cheap to run, too, consuming a tiny fraction of the electricity used by some techniques."
Giải thích: Đoạn văn cho biết hệ thống nông nghiệp khí canh tiêu thụ chỉ một phần rất nhỏ lượng điện so với một số kỹ thuật canh tác khác. Điều này cho thấy phương pháp này tiết kiệm điện năng hơn so với một số hình thức sản xuất nông nghiệp khác. Trong khi đó, nhận định trong câu hỏi cho rằng nông nghiệp đô thị sử dụng nhiều điện hơn các loại hình nông nghiệp khác. Nội dung này trái ngược trực tiếp với thông tin trong bài đọc, do đó đáp án chính xác là False.
Question 11: TRUE
Thông tin trong bài: "Produce grown this way typically sells at prices that, while generally higher than those of classic intensive agriculture, are lower than soil-based organic growers."
Giải thích: Bài đọc so sánh giá bán của nông sản được trồng bằng phương pháp khí canh với hai hình thức canh tác khác. Giá của sản phẩm khí canh cao hơn so với nông nghiệp thâm canh truyền thống, nhưng lại thấp hơn so với nông sản hữu cơ trồng trong đất. Nhận định trong câu hỏi cho rằng sản phẩm từ trang trại khí canh đô thị rẻ hơn nông sản hữu cơ trồng theo phương pháp truyền thống. Nội dung này hoàn toàn phù hợp với thông tin được cung cấp trong bài đọc, vì vậy đáp án đúng là True.
Question 12: FALSE
Thông tin trong bài: "There are limits to what farmers can grow this way, of course, and much of the produce is suited to the summer months."
Giải thích: Đoạn văn nêu rõ rằng phương pháp trồng cây khí canh tồn tại những giới hạn nhất định về loại cây trồng và điều kiện sản xuất. Ngoài ra, phần lớn các loại nông sản phù hợp với phương pháp này chủ yếu phát triển trong mùa hè. Điều này cho thấy việc canh tác không thể diễn ra quanh năm đối với hầu hết các loại cây trồng. Nhận định cho rằng phần lớn nông sản có thể được trồng vào bất kỳ thời điểm nào trong năm là không chính xác, do đó đáp án đúng là False.
Question 13: NOT GIVEN
Thông tin trong bài: "And beans tend to take up a lot of space for not much return."
Giải thích: Bài đọc đề cập rằng cây đậu chiếm nhiều không gian nhưng năng suất thu hoạch lại không cao khi trồng theo phương pháp khí canh. Tuy nhiên, nội dung không đưa ra bất kỳ thông tin nào liên quan đến thời gian sinh trưởng của cây đậu so với các loại rau khác. Nhận định trong câu hỏi đề cập đến việc đậu mất nhiều thời gian để phát triển hơn các loại rau khác, nhưng thông tin này không xuất hiện trong bài đọc. Vì vậy, đáp án phù hợp là Not Given.
>> Xem thêm: Giải đề IELTS Reading Cam 16 Test 1: Why we need to protect polar bears
4.2. Exercise 2: The development of the London underground railway
The development of the London underground railway
In the first half of the 1800s, London’s population grew at an astonishing rate, and the central area became increasingly congested. In addition, the expansion of the overground railway network resulted in more and more passengers arriving in the capital. However, in 1846, a Royal Commission decided that the railways should not be allowed to enter the City, the capital’s historic and business centre. The result was that the overground railway stations formed a ring around the City. The area within consisted of poorly built, overcrowded slums and the streets were full of horse-drawn traffic. Crossing the City became a nightmare. It could take an hour and a half to travel 8 km by horse-drawn carriage or bus. Numerous schemes were proposed to resolve these problems, but few succeeded.
Amongst the most vocal advocates for a solution to London’s traffic problems was Charles Pearson, who worked as a solicitor for the City of London. He saw both social and economic advantages in building an underground railway that would link the overground railway stations together and clear London slums at the same time. His idea was to relocate the poor workers who lived in the inner-city slums to newly constructed suburbs, and to provide cheap rail travel for them to get to work. Pearson’s ideas gained support amongst some businessmen and in 1851 he submitted a plan to Parliament. It was rejected, but coincided with a proposal from another group for an underground connecting line, which Parliament passed.
The two groups merged and established the Metropolitan Railway Company in August 1854. The company’s plan was to construct an underground railway line from the Great Western Railway’s (GWR) station at Paddington to the edge of the City at Farringdon Street – a distance of almost 5 km. The organisation had difficulty in raising the funding for such a radical and expensive scheme, not least because of the critical articles printed by the press. Objectors argued that the tunnels would collapse under the weight of traffic overhead, buildings would be shaken and passengers would be poisoned by the emissions from the train engines. However, Pearson and his partners persisted.
The GWR, aware that the new line would finally enable them to run trains into the heart of the City, invested almost £250,000 in the scheme. Eventually, over a five-year period, £1m was raised. The chosen route ran beneath existing main roads to minimise the expense of demolishing buildings. Originally scheduled to be completed in 21 months, the construction of the underground line took three years. It was built just below street level using a technique known as ‘cut and cover’. A trench about ten metres wide and six metres deep was dug, and the sides temporarily help up with timber beams. Brick walls were then constructed, and finally a brick arch was added to create a tunnel. A two-metre-deep layer of soil was laid on top of the tunnel and the road above rebuilt.
The Metropolitan line, which opened on 10 January 1863, was the world’s first underground railway. On its first day, almost 40,000 passengers were carried between Paddington and Farringdon, the journey taking about 18 minutes. By the end of the Metropolitan’s first year of operation, 9.5 million journeys had been made.
Even as the Metropolitan began operation, the first extensions to the line were being authorised; these were built over the next five years, reaching Moorgate in the east to London and Hammersmith in the west. The original plan was to pull the trains with steam locomotives, using firebricks in the boilers to provide steam, but these engines were never introduced. Instead, the line used specially designed locomotives that were fitted with water tanks in which steam could be condensed. However, smoke and fumes remained a problem, even though ventilation shafts were added to the tunnels.
Despite the extension of the underground railway, by the 1880s, congestion on London’s streets had become worse. The problem was partly that the existing underground lines formed a circuit around the centre of London and extended to the suburbs, but did not cross the capital’s centre. The ‘cut and cover’ method of construction was not an option in this part of the capital. The only alternative was to tunnel deep underground.
Although the technology to create these tunnels existed, steam locomotives could not be used in such a confined space. It wasn’t until the development of a reliable electric motor, and a means of transferring power from the generator to a moving train, that the world’s first deep-level electric railway, the City & South London, became possible. The line opened in 1890, and ran from the City to Stockwell, south of the River Thames. The trains were made up of three carriages and driven by electric engines. The carriages were narrow and had tiny windows just below the roof because it was thought that passengers would not want to look out at the tunnel walls. The line was not without its problems, mainly caused by an unreliable power supply, Although the City & South London Railway was a great technical achievement, it did not make a profit. Then, in 1900, the Central London Railway, known as the ‘Tuppenny Tube’, began operation using new electric locomotives. It was very popular and soon afterwards new railways and extensions were added to the growing tube network. By 1907, the heart of today’s Underground system was in place.
Questions 7-13
Do the following statements agree with the information given in Reading Passage 1?
In boxes 7-13 on your answer sheet, write
| TRUE |
if the statement agrees with the information |
| FALSE |
if the statement contradicts the information |
| NOT GIVEN |
if there is no information on this |
7. Other countries had built underground railways before the Metropolitan line opened.
8. More people than predicted travelled on the Metropolitan line on the first day.
9. The use of ventilation shafts failed to prevent pollution in the tunnels
10. A different approach from the ‘cut and cover’ technique was required in London’s central area.
11. The windows on City & South London trains were at eye level.
12. The City & South London Railway was a financial success.
13. Trains on the ‘Tuppenny Tube’ nearly always ran on time.
>> Xem thêm: Giải đề The study of chimpanzee culture IELTS Reading Actual Test Vol 6 Test 2
Đáp án
|
Câu hỏi |
Đáp án |
|---|---|
|
7 |
FALSE |
|
8 |
NOT GIVEN |
|
9 |
TRUE |
|
10 |
TRUE |
|
11 |
FALSE |
|
12 |
FALSE |
|
13 |
NOT GIVEN |
Giải thích chi tiết
Question 7: FALSE
Thông tin trong bài: "The Metropolitan line, which opened on 10 January 1863, was the world’s first underground railway."
Giải thích: Đoạn văn khẳng định tuyến Metropolitan, khai trương vào ngày 10/01/1863, là tuyến tàu điện ngầm đầu tiên trên thế giới. Điều này đồng nghĩa với việc trước thời điểm tuyến này đi vào hoạt động, chưa có quốc gia nào xây dựng hoặc vận hành hệ thống đường sắt ngầm. Nhận định trong câu hỏi cho rằng các quốc gia khác đã xây dựng đường sắt ngầm trước khi tuyến Metropolitan mở cửa. Nội dung này trái ngược hoàn toàn với thông tin được nêu rõ trong bài đọc, vì vậy đáp án chính xác là False.
Question 8: NOT GIVEN
Thông tin trong bài: "On its first day, almost 40,000 passengers were carried between Paddington and Farringdon."
Giải thích: Bài đọc cung cấp thông tin về số lượng hành khách sử dụng tuyến Metropolitan trong ngày đầu tiên vận hành, cụ thể là gần 40.000 lượt hành khách di chuyển giữa Paddington và Farringdon. Tuy nhiên, đoạn văn không đưa ra bất kỳ dữ liệu nào về dự đoán ban đầu đối với lượng hành khách. Vì vậy, không thể xác định liệu số hành khách thực tế có nhiều hơn dự đoán hay không. Do thiếu thông tin để so sánh, đáp án phù hợp là Not Given.
Question 9: TRUE
Thông tin trong bài: "However, smoke and fumes remained a problem, even though ventilation shafts were added to the tunnels."
Giải thích: Đoạn văn mô tả rằng các trục thông gió đã được bổ sung vào hệ thống đường hầm nhằm cải thiện chất lượng không khí. Tuy nhiên, khói và khí thải từ đầu máy vẫn tiếp tục gây ra vấn đề trong các đường hầm. Điều này cho thấy việc lắp đặt các trục thông gió không giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm trong không gian đường hầm. Nhận định trong câu hỏi cho rằng hệ thống thông gió không thể ngăn chặn hoàn toàn ô nhiễm, nội dung này hoàn toàn phù hợp với thông tin trong bài đọc, do đó đáp án đúng là True.
Question 10: TRUE
Thông tin trong bài: "The ‘cut and cover’ method of construction was not an option in this part of the capital. The only alternative was to tunnel deep underground."
Giải thích: Bài đọc giải thích rằng phương pháp xây dựng “cut and cover” – đào rãnh trên bề mặt rồi che phủ lại – không thể áp dụng tại khu vực trung tâm London. Lý do liên quan đến mật độ xây dựng và điều kiện hạ tầng trong khu vực này. Vì vậy, giải pháp duy nhất là xây dựng các đường hầm sâu dưới lòng đất bằng phương pháp khác. Nhận định trong câu hỏi cho rằng khu vực trung tâm London cần áp dụng một phương pháp khác thay cho “cut and cover”. Nội dung này trùng khớp trực tiếp với thông tin trong bài đọc, vì vậy đáp án chính xác là True.
Question 11: FALSE
Thông tin trong bài: "The carriages were narrow and had tiny windows just below the roof..."
Giải thích: Đoạn văn mô tả thiết kế của các toa tàu thuộc tuyến City & South London Railway, trong đó các cửa sổ nhỏ được đặt ngay bên dưới mái tàu, chứ không nằm ở vị trí ngang tầm mắt của hành khách. Thiết kế này xuất phát từ quan điểm cho rằng hành khách không muốn nhìn ra ngoài để thấy các bức tường đường hầm. Nhận định trong câu hỏi cho rằng cửa sổ của các đoàn tàu được đặt ngang tầm mắt. Nội dung này mâu thuẫn trực tiếp với mô tả trong bài đọc, do đó đáp án đúng là False.
Question 12: FALSE
Thông tin trong bài: "Although the City & South London Railway was a great technical achievement, it did not make a profit."
Giải thích: Đoạn văn đánh giá tuyến City & South London Railway là một thành tựu quan trọng về mặt kỹ thuật trong lịch sử phát triển đường sắt ngầm. Tuy nhiên, hệ thống này không đạt được hiệu quả tài chính và không tạo ra lợi nhuận. Nhận định trong câu hỏi cho rằng tuyến đường sắt này đạt thành công về mặt tài chính. Nội dung này trái ngược với thông tin được nêu rõ trong bài đọc, vì vậy đáp án chính xác là False.
Question 13: NOT GIVEN
Thông tin trong bài: "Then, in 1900, the Central London Railway, known as the ‘Tuppenny Tube’, began operation using new electric locomotives. It was very popular..."
Giải thích: Bài đọc đề cập rằng tuyến Central London Railway, còn được gọi là “Tuppenny Tube”, bắt đầu vận hành vào năm 1900 và nhanh chóng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, đoạn văn không cung cấp thông tin nào liên quan đến độ đúng giờ của các chuyến tàu hoặc tần suất tàu chạy đúng lịch trình. Nhận định trong câu hỏi đề cập đến việc các chuyến tàu của tuyến này hầu như luôn chạy đúng giờ, nhưng dữ liệu này không được nhắc đến trong bài đọc. Vì vậy, đáp án phù hợp là Not Given.
>> Xem thêm: IELTS Reading What is a dinosaur?: Dịch đề và giải đề chi tiết
4.3. Exercise 3: Plant ‘thermometer’
Plant ‘thermometer’ triggers springtime growth by measuring night-time heat
A photoreceptor molecule in plant cells has been found to have a second job as a thermometer after dark – allowing plants to read seasonal temperature changes. Scientists say the discovery could help breed crops that are more resilient to the temperatures expected to result from climate change
A
An international team of scientists led by the University of Cambridge has discovered that the ‘thermometer’ molecule in plants enables them to develop according to seasonal temperature changes. Researchers have revealed that molecules called phytochromes – used by plants to detect light during the day – actually change their function in darkness to become cellular temperature gauges that measure the heat of the night.
The new findings, published in the journal Science, show that phytochromes control genetic switches in response to temperature as well as light to dictate plant development.
B
At night, these molecules change states, and the pace at which they change is ‘directly proportional to temperature’, say scientists, who compare phytochromes to mercury in a thermometer. The warmer it is, the faster the molecular change – stimulating plant growth.
C
Farmers and gardeners have known for hundreds of years how responsive plants are to temperature: warm winters cause many trees and flowers to bud early, something humans have long used to predict weather and harvest times for the coming year. The latest research pinpoints for the first time a molecular mechanism in plants that reacts to temperature – often triggering the buds of spring we long to see at the end of winter.
D
With weather and temperatures set to become ever more unpredictable due to climate change, researchers say the discovery that this light-sensing molecule also functions as the internal thermometer in plant cells could help us breed tougher crops. ‘It is estimated that agricultural yields will need to double by 2050, but climate change is a major threat to achieving this. Key crops such as wheat and rice are sensitive to high temperatures. Thermal stress reduces crop yields by around 10% for every one degree increase in temperature,’ says lead researcher Dr Philip Wigge from Cambridge’s Sainsbury Laboratory. ‘Discovering the molecules that allow plants to sense temperature has the potential to accelerate the breeding of crops resilient to thermal stress and climate change.’
E
In their active state, phytochrome molecules bind themselves to DNA to restrict plant growth. During the day, sunlight activates the molecules, slowing down growth. If a plant finds itself in shade, phytochromes are quickly inactivated – enabling it to grow faster to find sunlight again. This is how plants compete to escape each other’s shade. ‘Light-driven changes to phytochrome activity occur very fast, in less than a second,’ says Wigge.
At night, however, it’s a different story. Instead of a rapid deactivation following sundown, the molecules gradually change from their active to inactive state. This is called ‘dark reversion’. ‘Just as mercury rises in a thermometer, the rate at which phytochromes revert to their inactive state during the night is a direct measure of temperature,’ says Wigge.
F
‘The lower the temperature, the slower the rate at which phytochromes revert to inactivity, so the molecules spend more time in their active, growth-suppressing state. This is why plants are slower to grow in winter. Warm temperatures accelerate dark reversion, so that phytochromes rapidly reach an inactive state and detach themselves from the plant’s DNA – allowing genes to be expressed and plant growth to resume.’ Wigge believes phytochrome thermo-sensing evolved at a later stage, and co-opted the biological network already used for light-based growth during the downtime of night.
G
Some plants mainly use day length as an indicator of the reason. Other species, such as daffodils, have considerable temperature sensitivity, and can flower months in advance during a warm winter. In fact, the discovery of the dual role of phytochromes provides the science behind a well-known rhyme long used to predict the coming season: oak before ash we’ll have a plash, ash before oak we’re in for a soak.
Wigge explains: ‘Oak trees rely much more on temperature, likely using phytochromes as thermometers to dictate development, whereas ash trees rely on measuring day length to determine their seasonal timing. A warmer spring, and consequently a higher likeliness of a hot summer, will result in oak leafing before ash. A cold spring will see the opposite. As the British know only too well, a colder summer is likely to be a rain-soaked one.’
H
The new findings are the culmination of twelve years of research involving scientists from Germany, Argentina and the US, as well as the Cambridge team. The work was done in a model system, using a mustard plant called Arabidopsis, but Wigge says the phytochrome genes necessary for temperature sensing are found in crop plants as well. ‘Recent advances in plant genetics now mean that scientists are able to rapidly identify the genes controlling these processes in crop plants, and even alter their activity using precise molecular “scalpels”,’ adds Wigge. ‘Cambridge is uniquely well-positioned to do this kind of research as we have outstanding collaborators nearby who work on more applied aspects of plant biology, and can help us transfer this new knowledge into the field.’
Questions 27-32
Do the following statements agree with the information given in Reading Passage 3
In boxes 27-32 on your answer sheet, write
| TRUE |
if the statement agrees with the information |
| FALSE |
if the statement contradicts the information |
| NOT GIVEN |
if there is no information on this |
27. The Cambridge scientists’ discovery of the ‘thermometer molecule’ caused surprise among other scientists.
28. The target for agricultural production by 2050 could be missed.
29. Wheat and rice suffer from a rise in temperatures.
30. It may be possible to develop crops that require less water.
31. Plants grow faster in sunlight than in shade.
32. Phytochromes change their state at the same speed day and night.
>> Xem thêm: Giải đề Astronaut ice cream, anyone IELTS Reading: Transcript & Answer
Đáp án
|
Câu hỏi |
Đáp án |
|---|---|
|
27 |
NOT GIVEN |
|
28 |
TRUE |
|
29 |
TRUE |
|
30 |
NOT GIVEN |
|
31 |
FALSE |
|
32 |
FALSE |
Giải thích chi tiết
27. Đáp án: NOT GIVEN
Vị trí thông tin: Không có đoạn nào đề cập
Giải thích: Bài đọc chỉ nói rằng các nhà khoa học tại Đại học Cambridge đã phát hiện ra “thermometer molecule”, nhưng không đề cập phản ứng của các nhà khoa học khác, cũng không nói rằng phát hiện này gây ngạc nhiên hay bất ngờ. Vì vậy, thông tin này không được cung cấp.
28. Đáp án: TRUE
Vị trí thông tin: Đoạn D: “It is estimated that agricultural yields will need to double by 2050, but climate change is a major threat to achieving this.”
Giải thích: Câu văn cho thấy dù mục tiêu là tăng gấp đôi sản lượng nông nghiệp vào năm 2050, biến đổi khí hậu là mối đe dọa lớn, đồng nghĩa với việc mục tiêu này có thể không đạt được. Do đó, phát biểu trong câu hỏi là đúng.
29. Đáp án: TRUE
Vị trí thông tin: Đoạn D: “Key crops such as wheat and rice are sensitive to high temperatures.”
Giải thích: Đoạn D nêu rõ rằng lúa mì và lúa gạo nhạy cảm với nhiệt độ cao, tức là chúng chịu ảnh hưởng tiêu cực khi nhiệt độ tăng. Điều này phù hợp hoàn toàn với nội dung của câu hỏi.
30. Đáp án: NOT GIVEN
Vị trí thông tin: Không có đoạn nào đề cập
Giải thích: Bài đọc chỉ nói đến việc lai tạo cây trồng chịu được nhiệt độ cao, không hề đề cập đến việc giảm nhu cầu nước. Vì không có thông tin liên quan đến nước, câu này là NOT GIVEN.
31. Đáp án: FALSE
Vị trí thông tin: Đoạn E: “During the day, sunlight activates the molecules, slowing down growth.” “If a plant finds itself in shade… enabling it to grow faster…”
Giải thích: Câu hỏi nói rằng cây phát triển nhanh hơn trong ánh sáng so với bóng râm, nhưng đoạn E cho thấy điều ngược lại:
- Ánh sáng → làm chậm tăng trưởng
- Bóng râm → cây phát triển nhanh hơn
→ Vì vậy, phát biểu này trái với thông tin trong bài.
32. Đáp án: FALSE
Vị trí thông tin: Đoạn E và F: “Light-driven changes… occur very fast, in less than a second.” “At night… the molecules gradually change…”
Giải thích: Bài đọc khẳng định rằng phytochromes thay đổi rất nhanh vào ban ngày nhưng chậm dần vào ban đêm. Điều này chứng minh rằng tốc độ thay đổi không giống nhau, nên phát biểu trong câu hỏi là sai.
>> Xem thêm: Giải đề Climate change reveals ancient artefacts in Norway's glaciers IELTS Reading Cam 16 Test 3
4.4. Exercise 4: Pyramid Building
Pyramid Building
The most famous pyramid is the Great Pyramid of Giza which is actually only one of over a hundred surviving pyramids. There is a long-standing question about how the pyramids were built given the lack of technology over 4,000 years ago but scientists are piecing together the puzzle. The blocks which make up the pyramids were hewn from quarries and then transported to the pyramids for construction. This was an incredible feat considering the distance that the raw materials had to travel and their enormous weight. The transportation of the materials was either by river using a boat or by land using a wooden sledge. Given the softness of the ground, the wheel would have been of little use had it been invented at that time. It is believed that the sand in front of the sledge was wet with water in order to facilitate the movement of the sledge and reduce friction. These sledges were pulled manually or sometimes by using beasts of burden depending on the ease at which the sledges could move over the ground. Interestingly, two thousand years after the pyramid building era of the Ancient Egyptians, the Romans moved stones using similar techniques at Baalbek. Once the blocks arrived at the pyramid construction site, it is thought they were moved into place using a ramp and pulley system.
The Old Kingdom period in Ancient Egyptian history is also known as the pyramid building era. The Ancient Egyptians achieved the most remarkable feats of building work which have still not been surpassed, particularly given the primitive technology used to build them. There is nothing remotely mystical or magical about how the pyramids were built as is commonly thought. Further still, while popular belief is that the Great Pyramid was built using slave labour, this theory has since been debunked. The first building made in a pyramid shape is thought to be the Stepped Pyramid which consists of six steps placed on top of each other in a pyramid shape to create the world’s first superstructure. The credit to finally achieving a smooth sided pyramid goes to Imhotep, an architect commissioned by King Sneferu. The pyramids were not an instant achievement, but the achievement of trial and error.
Questions 1–8
Decide if the statements below are True, False or Not Given according to the information in the passage.
1. The controversy over the method used in the construction of the pyramids has been solved by scientists.
2. It is possible that Ancient Egyptians could have lubricated paths to aid transportation by sledge.
3. Sleds were dragged by animals not humans.
4. The Romans learned the techniques of moving huge stones from the Ancient Egyptians.
5. The building work of the Ancient Egyptians is unrivalled.
6. Many people believe that magic may have been used by the Ancient Egyptians to build the pyramids.
7. The Great Pyramid was built using slave labour.
8. It took more than one attempt to get the construction of the pyramids right.
Đáp án
|
Câu hỏi |
Đáp án |
|
1 |
FALSE |
|
2 |
TRUE |
|
3 |
FALSE |
|
4 |
NOT GIVEN |
|
5 |
TRUE |
|
6 |
TRUE |
|
7 |
FALSE |
|
8 |
TRUE |
>> Xem thêm: IELTS Reading Cam 16 Test 1: Dịch đề & Giải đề chi tiết
Giải thích chi tiết
Question 1: FALSE
Thông tin trong bài:
"There is a long-standing question about how the pyramids were built given the lack of technology over 4,000 years ago but scientists are piecing together the puzzle."
Giải thích: Đoạn văn cho biết câu hỏi về phương pháp xây dựng kim tự tháp đã tồn tại trong thời gian dài do sự thiếu hụt công nghệ cách đây hơn 4.000 năm. Nội dung đồng thời nhấn mạnh rằng các nhà khoa học đang dần ghép các mảnh thông tin để hiểu rõ vấn đề, chứ chưa hoàn toàn giải quyết được câu hỏi này. Nhận định trong câu hỏi cho rằng tranh cãi về phương pháp xây dựng kim tự tháp đã được giải quyết hoàn toàn bởi các nhà khoa học. Điều này mâu thuẫn với thông tin trong bài đọc, vì quá trình nghiên cứu vẫn đang tiếp tục. Do đó, đáp án chính xác là False.
Question 2: TRUE
Thông tin trong bài: "It is believed that the sand in front of the sledge was wet with water in order to facilitate the movement of the sledge and reduce friction."
Giải thích: Đoạn văn mô tả giả thuyết về phương pháp hỗ trợ việc di chuyển các khối đá nặng bằng xe trượt gỗ. Cát phía trước xe trượt được làm ướt bằng nước nhằm giảm ma sát và giúp xe trượt di chuyển dễ dàng hơn trên bề mặt đất mềm. Hành động làm ướt cát về bản chất đóng vai trò giống như một hình thức bôi trơn bề mặt di chuyển để hỗ trợ vận chuyển. Nhận định trong câu hỏi cho rằng người Ai Cập cổ đại có thể đã bôi trơn đường đi để hỗ trợ việc vận chuyển bằng xe trượt. Nội dung này hoàn toàn phù hợp với thông tin trong bài đọc, vì vậy đáp án đúng là True.
Question 3: FALSE
Thông tin trong bài: "These sledges were pulled manually or sometimes by using beasts of burden depending on the ease at which the sledges could move over the ground."
Giải thích: Đoạn văn cho biết các xe trượt được kéo bằng sức người hoặc đôi khi bằng động vật thồ hàng, tùy thuộc vào điều kiện di chuyển trên mặt đất. Điều này cho thấy cả hai phương thức đều được sử dụng trong quá trình vận chuyển vật liệu xây dựng. Nhận định trong câu hỏi khẳng định rằng xe trượt được kéo bởi động vật chứ không phải con người. Nội dung này loại trừ vai trò của con người, trong khi bài đọc nêu rõ việc kéo bằng tay là một phương thức phổ biến. Vì vậy, nhận định này trái với thông tin trong bài và đáp án chính xác là False.
Question 4: NOT GIVEN
Thông tin trong bài: "Interestingly, two thousand years after the pyramid building era of the Ancient Egyptians, the Romans moved stones using similar techniques at Baalbek."
Giải thích: Đoạn văn đề cập rằng người La Mã đã sử dụng những kỹ thuật tương tự để di chuyển các khối đá lớn tại Baalbek khoảng hai nghìn năm sau thời kỳ xây dựng kim tự tháp của người Ai Cập cổ đại. Tuy nhiên, bài đọc không cung cấp thông tin cho thấy người La Mã học trực tiếp các kỹ thuật này từ người Ai Cập. Việc sử dụng phương pháp tương tự không đồng nghĩa với việc tiếp thu hay học hỏi trực tiếp. Vì bài đọc không xác nhận mối quan hệ truyền thừa kỹ thuật giữa hai nền văn minh, đáp án phù hợp là Not Given.
Question 5: TRUE
Thông tin trong bài: "The Ancient Egyptians achieved the most remarkable feats of building work which have still not been surpassed..."
Giải thích: Đoạn văn khẳng định rằng những thành tựu xây dựng của người Ai Cập cổ đại là vô cùng ấn tượng và cho đến nay vẫn chưa bị vượt qua. Điều này thể hiện mức độ đặc biệt và độc đáo của các công trình xây dựng trong thời kỳ này, đặc biệt khi xét đến điều kiện công nghệ còn rất hạn chế. Nhận định trong câu hỏi cho rằng thành tựu xây dựng của người Ai Cập cổ đại là không có đối thủ vượt qua. Nội dung này hoàn toàn tương đương về ý nghĩa với thông tin trong bài đọc, vì vậy đáp án chính xác là True.
Question 6: TRUE
Thông tin trong bài: "There is nothing remotely mystical or magical about how the pyramids were built as is commonly thought."
Giải thích: Đoạn văn nhấn mạnh rằng quá trình xây dựng kim tự tháp không hề mang tính huyền bí hay phép thuật, mặc dù nhiều người thường tin như vậy. Cụm từ “commonly thought” cho thấy niềm tin phổ biến của công chúng rằng các yếu tố siêu nhiên có thể đã được sử dụng trong việc xây dựng kim tự tháp. Nhận định trong câu hỏi cho rằng nhiều người tin rằng phép thuật có thể đã được sử dụng để xây dựng kim tự tháp. Nội dung này phản ánh đúng quan điểm phổ biến được đề cập trong bài đọc, do đó đáp án đúng là True.
Question 7: FALSE
Thông tin trong bài: "While popular belief is that the Great Pyramid was built using slave labour, this theory has since been debunked."
Giải thích: Đoạn văn cho biết có một niềm tin phổ biến cho rằng Đại Kim tự tháp được xây dựng bằng lao động nô lệ. Tuy nhiên, quan điểm này đã bị bác bỏ bởi các nghiên cứu sau đó. Điều này có nghĩa là giả thuyết về lao động nô lệ không còn được chấp nhận là đúng. Nhận định trong câu hỏi khẳng định rằng Đại Kim tự tháp được xây dựng bằng lao động nô lệ. Nội dung này mâu thuẫn với thông tin trong bài đọc, vì vậy đáp án chính xác là False.
Question 8: TRUE
Thông tin trong bài: "The pyramids were not an instant achievement, but the achievement of trial and error."
Giải thích: Đoạn văn giải thích rằng việc xây dựng kim tự tháp không phải là thành tựu đạt được ngay lập tức, mà là kết quả của quá trình thử nghiệm và điều chỉnh nhiều lần. Cụm từ “trial and error” cho thấy các kỹ thuật và thiết kế đã được cải tiến dần qua nhiều giai đoạn trước khi đạt được hình thức hoàn thiện. Nhận định trong câu hỏi cho rằng cần nhiều hơn một lần thử nghiệm để xây dựng kim tự tháp thành công. Nội dung này hoàn toàn phù hợp với thông tin trong bài đọc, vì vậy đáp án đúng là True.
>> Xem thêm: IELTS Reading Cambridge 15 test 3: Dịch đề và giải chi tiết đáp án
5. Kết luận
Dạng bài True/False/Not Given trong IELTS Reading đòi hỏi người học không chỉ đọc hiểu nội dung mà còn phải phân tích logic thông tin và nhận diện các cách paraphrase trong bài đọc. Việc luyện tập thường xuyên với các bài đọc học thuật, kết hợp kỹ thuật xác định từ khóa, scanning thông tin và đối chiếu nội dung sẽ giúp người học nâng cao độ chính xác khi lựa chọn đáp án.
Bên cạnh đó, để cải thiện điểm số IELTS Reading một cách bền vững, người học cần xây dựng chiến lược làm bài rõ ràng cho từng dạng câu hỏi, đặc biệt là những dạng dễ gây nhầm lẫn như True/False/Not Given. Việc học cùng giảng viên giàu kinh nghiệm và nhận phản hồi chi tiết sẽ giúp người học hiểu sâu bản chất đề thi, tránh các “bẫy” thường gặp trong bài đọc học thuật.
Nếu đang tìm kiếm một lộ trình học IELTS bài bản, khóa học IELTS Online tại Langmaster là lựa chọn phù hợp giúp người học rút ngắn thời gian ôn luyện và đạt band điểm mục tiêu.
Ưu điểm nổi bật của khóa học IELTS Online tại Langmaster
-
Sĩ số nhỏ (7–10 học viên): Giúp tăng mức độ tương tác và đảm bảo giáo viên theo sát tiến độ học của từng học viên, điều chỉnh phương pháp giảng dạy kịp thời.
-
Coaching 1:1 cùng chuyên gia: Học viên được hỗ trợ trực tiếp từ giảng viên để giải quyết điểm yếu cụ thể, giúp bứt phá điểm số nhanh chóng với chiến lược làm bài hiệu quả.
-
Lộ trình học cá nhân hóa theo mục tiêu band: Dựa trên bài kiểm tra đầu vào, Langmaster thiết kế kế hoạch học tập phù hợp nhất với trình độ và mục tiêu của từng học viên, giúp học đúng trọng tâm và tiết kiệm thời gian.
-
Chấm chữa chi tiết trong 24h bởi giảng viên IELTS 7.5+: Giúp học viên nhận diện và khắc phục các lỗi thường gặp, từ đó cải thiện độ chính xác và sự tự tin.
-
Thi thử chuẩn format đề thi thật: Giúp học viên làm quen với áp lực phòng thi, rèn luyện phản xạ xử lý thông tin nhanh chóng và chính xác.
-
Học online với hệ sinh thái hỗ trợ đầy đủ: Đảm bảo chất lượng học tập tương đương với học offline và lộ trình theo đuổi mục tiêu band điểm hiệu quả.
- Chi phí tiết kiệm chỉ từ 2–3 triệu/tháng, cam kết đầu ra rõ ràng: Mức học phí phù hợp với sinh viên và người đi làm, đi kèm cam kết đầu ra bằng văn bản và chính sách học lại miễn phí nếu chưa đạt mục tiêu.
Đăng ký học thử IELTS Online tại Langmaster ngay hôm nay để bắt đầu hành trình chinh phục band điểm IELTS mong muốn!
Nội Dung Hot
KHÓA TIẾNG ANH GIAO TIẾP 1 KÈM 1
- Học và trao đổi trực tiếp 1 thầy 1 trò.
- Giao tiếp liên tục, sửa lỗi kịp thời, bù đắp lỗ hổng ngay lập tức.
- Lộ trình học được thiết kế riêng cho từng học viên.
- Dựa trên mục tiêu, đặc thù từng ngành việc của học viên.
- Học mọi lúc mọi nơi, thời gian linh hoạt.
KHÓA HỌC IELTS ONLINE
- Sĩ số lớp nhỏ (7-10 học viên), đảm bảo học viên được quan tâm đồng đều, sát sao.
- Giáo viên 7.5+ IELTS, chấm chữa bài trong vòng 24h.
- Lộ trình cá nhân hóa, coaching 1-1 cùng chuyên gia.
- Thi thử chuẩn thi thật, phân tích điểm mạnh - yếu rõ ràng.
- Cam kết đầu ra, học lại miễn phí.
KHÓA TIẾNG ANH TRẺ EM
- Giáo trình Cambridge kết hợp với Sách giáo khoa của Bộ GD&ĐT hiện hành
- 100% giáo viên đạt chứng chỉ quốc tế IELTS 7.0+/TOEIC 900+
- X3 hiệu quả với các Phương pháp giảng dạy hiện đại
- Lộ trình học cá nhân hóa, con được quan tâm sát sao và phát triển toàn diện 4 kỹ năng
Bài viết khác
Các dạng bài phổ biến và tiêu chí chấm điểm IELTS Reading chi tiết nhất: Multiple Choice, Matching Information, Matching Headings,... và hướng dẫn chiến lược làm bài hiệu quả
Những sai lầm khi luyện IELTS Reading bao gồm: dịch từng từ, đọc hết cả bài, không đọc câu hỏi trước, không quản lý thời gian, không nắm vững kỹ năng paraphrase, viết sai chính tả
Giải đề thi IELTS Reading “A brief history of humans and food” kèm full đề thi thật, câu hỏi, đáp án, giải thích chi tiết, và từ vựng cần lưu ý khi làm bài.
Tổng hợp IELTS Reading tips hay nhất giúp bạn đọc nhanh, nắm ý chính và xử lý thông tin chính xác, tự tin đạt điểm cao trong kỳ thi IELTS.
Giải đề IELTS Reading “The importance of law” kèm đáp án chi tiết, từ vựng quan trọng và bí quyết luyện thi hiệu quả để nâng cao band điểm.






